Apr
28

Trong bối cảnh tự chủ đại học và chuyển đổi mô hình phát triển, Trường Đại học Tài chính – Marketing (UFM) đang đặc biệt chú trọng thúc đẩy các hoạt động nhằm gia tăng nguồn thu từ khoa học công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST). Đây không chỉ là định hướng chiến lược của Nhà trường mà còn là yêu cầu mang tính bắt buộc theo quy định của Nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học.

Theo Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT năm 2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, hoạt động KHCN và ĐMST được xác định là một trong các tiêu chuẩn cốt lõi để đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục đại học. Đặc biệt, với tiêu chí về tài chính và nghiên cứu, Thông tư đưa ra quy định yêu cầu các trường phải có nguồn thu từ hoạt động khoa học công nghệ. Cụ thể, “tỉ trọng thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tổng thu của cơ sở giáo dục đại học… không thấp hơn 5%”. Quy định này cho thấy, Nhà nước đã chuyển từ việc khuyến khích sang đặt ra ngưỡng mang tính bắt buộc, nhằm đảm bảo các trường đại học phải thúc đẩy hoạt động nghiên cứu KHCN gắn với thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển dịch vụ KHCN.


Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT năm 2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học

Tính cấp thiết của vấn đề này tiếp tục được nhấn mạnh khi Nghị định số 91/2026/NĐ-CP năm 2026 của Chính phủ hướng dẫn Luật Giáo dục đại học xác định các cơ sở giáo dục đại học phải gia tăng tỷ trọng nguồn thu từ hoạt động KHCN và ĐMST trong tổng thu, đồng thời mở rộng phạm vi các hoạt động tạo nguồn thu như nghiên cứu theo đặt hàng, chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ KHCN và khai thác tài sản trí tuệ. Ngoài ra, theo Luật khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 số 93/2026/QH15, nguồn thu từ KHCN không giới hạn trong các đề tài nghiên cứu, mà mở rộng hơn bao gồm: (i) chuyển giao công nghệ và giải pháp; (ii) dịch vụ tư vấn, đào tạo, nghiên cứu theo đặt hàng; (iii) thương mại hóa tài sản trí tuệ; (iv) hợp tác phát triển sản phẩm với doanh nghiệp; và (v) các hoạt động ĐMST gắn với thị trường. Đây chính là các hoạt động và cơ chế nền tảng để các trường đại học chuyển từ mô hình “nghiên cứu học thuật” sang mô hình “đại học tạo giá trị”.


Nghị định số 91/2026/NĐ-CP năm 2026 của Chính phủ hướng dẫn Luật Giáo dục đại học

Bên cạnh đó, xu hướng quản trị quốc gia hiện nay cũng đang chuyển mạnh theo hướng áp dụng các nguyên lý quản trị doanh nghiệp vào khu vực công, thể hiện qua các cách tiếp cận như “Quản trị công mới” (New Public Management) và “Quản trị công hiện đại” (New Public Governance). Theo đó, khu vực công không chỉ vận hành theo logic hành chính mà ngày càng chú trọng hiệu quả, hiệu suất và tạo giá trị, tương tự như doanh nghiệp. Các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có trường đại học được yêu cầu chuyển từ mô hình quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả đầu ra (result-based management), gắn với đo lường hiệu quả, trách nhiệm giải trình và tối ưu hóa, đa dạng hóa nguồn lực. Điều này đặt ra yêu cầu các trường đại học phải tổ chức hoạt động giảng dạy và KHCN như các “sản phẩm” có khả năng tạo giá trị và doanh thu thực tế.

Xu hướng này cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Các trường đại học trên thế giới đều áp dụng hệ thống đánh giá hiệu quả công việc dựa trên kết quả đầu ra (performance-based evaluation), trong đó nguồn thu từ nghiên cứu, chuyển giao và hợp tác nghiên cứu với doanh nghiệp là tiêu chí quan trọng. Đáng chú ý, các chỉ số này không chỉ dùng để đánh giá mà còn được sử dụng trực tiếp làm căn cứ phân bổ thu nhập và nguồn lực, tạo động lực mạnh mẽ để gắn hoạt động học thuật với thị trường. Vì vậy, đại học không chỉ là nơi đào tạo và nghiên cứu mà còn là tác nhân kinh tế trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, góp phần tạo ra giá trị kinh tế.

Đối với các trường thuộc khối kinh tế – xã hội, sản phẩm nghiên cứu không nằm ở công nghệ lõi mà là các giải pháp ứng dụng trong quản trị, tài chính, marketing, chuyển đổi số và phát triển dịch vụ. Vì vậy, chuyển giao KHCN không nhất thiết là chuyển giao công nghệ theo nghĩa truyền thống, mà là chuyển giao các mô hình, giải pháp và hệ thống tri thức có khả năng ứng dụng trực tiếp trong thực tiễn. Điều này mở ra dư địa rất lớn để phát triển nguồn thu nếu được tổ chức theo hướng thị trường và ĐMST.


Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận phát biểu chỉ đạo nhấn mạnh, các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động mở rộng liên kết, tích hợp nguồn lực và gắn kết chặt chẽ hơn với hệ thống viện nghiên cứu, doanh nghiệp và thực tiễn nền kinh tế

Bối cảnh đó đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện về nhận thức, tư duy, cách tiếp cận và nhiệm vụ của người giảng viên trong trường đại học, cụ thể:

(i) Thiết kế nghiên cứu theo hướng sản phẩm hóa (product-oriented research): mỗi đề tài cần được định hình ngay từ đầu như một gói giải pháp có khả năng ứng dụng, có thể triển khai và nhân rộng trong thực tiễn.

(ii) Chủ động, năng động trong kết nối và tìm kiếm cơ hội hợp tác: giảng viên không chờ đợi được giao đề tài hay đặt hàng mà cần chủ động tiếp cận doanh nghiệp, địa phương, các tổ chức; tham gia các diễn đàn, mạng lưới để phát hiện nhu cầu và hình thành ý tưởng nghiên cứu gắn với thực tiễn.

(iii) Phát triển năng lực sáng tạo giải pháp (solution-oriented creativity): không chỉ phân tích vấn đề mà cần đề xuất các mô hình, công cụ, cách tiếp cận mới, linh hoạt và phù hợp với bối cảnh cụ thể của doanh nghiệp và địa phương; dám thử nghiệm các ý tưởng mới thông qua các dự án thí điểm (pilot).

(iv) Nâng cao năng lực tư vấn và triển khai thực tiễn: giảng viên cần được trang bị kỹ năng làm việc với doanh nghiệp, thiết kế giải pháp, thuyết trình, đàm phán và quản lý dự án, qua đó chuyển hóa tri thức thành sản phẩm có giá trị.

(v) Tham gia tích cực vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Nhà trường: tham gia các Innovation Hub, nhóm liên ngành, dự án hợp tác với doanh nghiệp và địa phương, đóng vai trò đồng sáng tạo (co-creator) thay vì chỉ là người nghiên cứu độc lập.

(vi) Chấp nhận thử nghiệm và rủi ro có kiểm soát: đổi mới sáng tạo gắn với khả năng chấp nhận thất bại trong phạm vi cho phép, từ đó tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện giải pháp, thay vì chỉ theo đuổi các nghiên cứu “an toàn” phục vụ công bố.

(vii) Đo lường hiệu quả theo giá trị tạo ra (impact-based evaluation): chuyển từ đánh giá dựa trên số lượng công bố sang đánh giá dựa trên các chỉ số như số hợp đồng tư vấn, doanh thu chuyển giao, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và tác động xã hội.

Tóm lại, yêu cầu tăng doanh thu từ KHCN và ĐMST là một định hướng chiến lược mang tính bắt buộc, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước, xu hướng quản trị công hiện đại và thông lệ quốc tế. Việc thích ứng kịp thời không chỉ giúp các trường đại học nâng cao năng lực tự chủ tài chính mà còn khẳng định vai trò là trung tâm tri thức có khả năng tạo ra giá trị cho nền kinh tế và xã hội.



UFM tăng cường ký kết hợp tác với các đơn vị trong thời gian qua

Xu hướng phát triển các trường đại học tại Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng ngay từ năm đầu của Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên vươn mình của đất nước là tăng quy mô và chất lượng đào tạo, tăng quy mô và chất lượng đội ngũ giảng viên và nghiên cứu viên, hội nhập quốc tế, đổi mới mô hình tăng trưởng thông qua nguồn lực nội sinh và sáp nhập các trường theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, đồng thời đổi mới tăng trưởng doanh thu. Theo đó, tăng cường thúc đẩy bứt phá hoạt động nghiên cứu KHCN, đặc biệt là nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng sản phẩm KHCN cho sự phát triển của xã hội và tăng nguồn thu từ KHCN và ĐMST là yêu cầu đòi hỏi cấp thiết cần phải tiếp tục cải tiến, đột phá cách thức triển khai thực hiện một cách căn cốt, sáng tạo, tích cực, khẩn trương và không có điểm dừng. Các cơ sở giáo dục đại học cần phải vừa hành động với tinh thần quyết tâm cao, nỗ lực lớn, quyết liệt vừa phải dành nhiều nguồn lực thỏa đáng cho hoạt động này, đồng thời kiến tạo môi trường thuận lợi, liêm chính khoa học để có thể huy động và phát huy sức mạnh tiềm năng của đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, chuyên gia, nhà khoa học, người học bên trong và ngoài trường cũng như ở các cơ sở nghiên cứu, các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.

Phòng Quản lý khoa học