Jul
02

Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mạnh từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng thực chất, TS.GVC Khúc Thị Trang Nhung, Khoa Luật, Trường Đại học Tài chính – Marketing đã có bài viết phân tích về yêu cầu nâng chuẩn chất lượng giáo dục đại học, đặc biệt là chính sách phát triển đội ngũ giảng viên trong giai đoạn mới. Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Pháp luật và Phát triển.

Bài viết nhấn mạnh, nâng chuẩn chất lượng giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết trước tác động của tự chủ đại học, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, học tập suốt đời và cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo tác giả, trong giai đoạn phát triển hiện nay, yêu cầu trung tâm của giáo dục đại học không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô đào tạo, mà cần tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng và năng lực hội nhập quốc tế. Trong đó, chất lượng đội ngũ giảng viên được xem là một trong những yếu tố quyết định vị thế và năng lực cạnh tranh của cơ sở giáo dục đại học.

Từ góc nhìn chính sách, TS.GVC Khúc Thị Trang Nhung cho rằng việc nâng chuẩn đội ngũ giảng viên cần được hiểu theo nghĩa rộng. Trình độ tiến sĩ là một chỉ báo quan trọng, nhất là đối với năng lực nghiên cứu, đào tạo sau đại học, mở ngành và nâng cao vị thế học thuật; tuy nhiên, chuẩn chất lượng của giảng viên đại học không thể chỉ rút gọn vào văn bằng. Đó còn là năng lực sư phạm đại học, năng lực nghiên cứu và công bố, năng lực thiết kế học liệu số, khả năng ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm, năng lực kết nối thực tiễn nghề nghiệp, quốc tế hóa chương trình và trách nhiệm học thuật.

Bài viết cũng chỉ ra một số khó khăn trong quá trình thực thi chính sách nâng chuẩn hiện nay, như khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và điều kiện thực hiện, cơ cấu đội ngũ chưa đồng đều, cơ chế vị trí việc làm chưa vận hành thực chất, cũng như việc thiếu công cụ chuyển tiếp đối với nhóm giảng viên chưa đáp ứng yêu cầu mới. Nếu chỉ đặt ra chỉ tiêu mà chưa tính đầy đủ đến nguồn lực tài chính, quỹ thời gian, môi trường học thuật, cơ chế đãi ngộ và hệ thống đánh giá phù hợp, chính sách nâng chuẩn dễ trở thành áp lực hành chính thay vì động lực phát triển.

Từ việc phân tích các xu hướng giáo dục đại học thế giới và những vướng mắc trong thực tiễn Việt Nam, tác giả đề xuất cách tiếp cận theo hướng chuẩn hóa có phân tầng, có lộ trình và gắn với vị trí việc làm. Theo đó, không nên áp dụng một khuôn mẫu cứng cho mọi giảng viên, mọi ngành đào tạo và mọi cơ sở giáo dục đại học. Giảng viên tham gia đào tạo sau đại học, chương trình chất lượng cao, chương trình tiếng Anh toàn phần, nhóm nghiên cứu mạnh hoặc các ngành định hướng nghiên cứu cần đáp ứng chuẩn cao hơn; trong khi các học phần thực hành, kỹ năng nghề nghiệp hoặc có tính ứng dụng cần được đánh giá kết hợp giữa trình độ học thuật, kinh nghiệm thực tiễn, năng lực sư phạm và đóng góp nghề nghiệp.

Đáng chú ý, bài viết dẫn thực tiễn tại Trường Đại học Tài chính – Marketing như một minh chứng cho nỗ lực thích ứng với yêu cầu nâng chuẩn trong giai đoạn mới. Trong 6 tháng đầu năm 2026, UFM đã tuyển dụng và tiếp nhận 29 viên chức có trình độ tiến sĩ, gồm 17 tiến sĩ tuyển dụng mới và 12 tiến sĩ tiếp nhận từ các đơn vị khác; đồng thời đặt việc phát triển nhân lực trình độ cao trong định hướng chiến lược phát triển Nhà trường giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cách tiếp cận này cho thấy, khi được đặt trong chiến lược phát triển dài hạn, nâng chuẩn đội ngũ có thể trở thành động lực tái cấu trúc nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, kiểm định chất lượng và hội nhập quốc tế.

Theo TS.GVC Khúc Thị Trang Nhung, chính sách nâng chuẩn đội ngũ giảng viên cần chuyển từ tư duy “nâng tỷ lệ bằng cấp” sang tư duy “phát triển năng lực đội ngũ”. Tỷ lệ tiến sĩ là chỉ báo quan trọng, nhưng không thể là chỉ báo duy nhất. Chính sách cần đồng thời ghi nhận năng lực nghiên cứu, năng lực giảng dạy, năng lực số, năng lực quốc tế hóa, kinh nghiệm nghề nghiệp và đóng góp cho cộng đồng học thuật.

Bài viết khẳng định, nâng chuẩn chất lượng giáo dục đại học là yêu cầu tất yếu của giai đoạn phát triển mới, nhưng không thể được thực hiện bằng một mệnh lệnh hành chính đơn giản. Vấn đề cốt lõi là cần thiết kế được một cơ chế đủ rõ, đủ mềm dẻo và đủ khả thi để chuyển yêu cầu nâng chuẩn thành quá trình phát triển đội ngũ có lộ trình, có hỗ trợ, có đánh giá tác động và có trách nhiệm giải trình.

Với cách tiếp cận này, nâng chuẩn đội ngũ giảng viên không chỉ giúp các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu kiểm định, mở ngành hay đào tạo sau đại học, mà còn trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới.

Xem toàn văn bài báo tại đây.

Hồng Quân